Những câu chuyện ý nghĩa

Những câu chuyện ý nghĩa
Những câu chuyện ý nghĩa

Friday, July 31, 2026

Tình đầu cũng là Tình cuối

Tình đầu
cũng là Tình cuối

 


Phó tế NGUYỄN MẠNH SAN

Nói lên phần nào tâm trạng mối «tình buồn muôn thuở» của đôi trai gái trong trại tù, bị nhốt riêng biệt mỗi người một xà lim (nàng Stacy và chàng Rick), phạm tội buôn bán cần sa, ma túy, chờ ngày ra tòa lãnh án.

Ôi, Chúa thương đã cho họ cơ hội yêu nhau qua lời âu yếm, tình tứ lả lướt, họ «yêu nhau ra riết qua lời nồng thắm mà… không bao giờ... không bao giờ biết mặt...!» Họ chỉ nghe được giọng nói, những lời yêu thương chân thành, cảm nhận hơi thở của nhau qua ống thoát nước của cầu tiêu…! một kiểu «phone» sáng tạo tưởng là nói cho vui, nhưng lại có thật 100%. Cái gì ở nơi khác không làm được, thế mà ở xứ Cờ Hoa dù ở trong tù vẫn có sáng tạo làm được tuốt luốt. A…lô! A…lô! «Toilet Phone» made in US đây...! xin mời các bạn chiêm ngưỡng…!

«Toilet phone» là tác phẩm do chính những tù nhân bị tù lâu ngày trong xà lim, tình cờ khám phá ra một hệ thống điện thoại miễn phí, nói chuyện qua ống thoát nước cầu tiêu...! giúp họ nói liên lạc chuyện trò với nhau từ xà lim (cell) này đến xà lim khác một cách dễ dàng thoải mái, tuy vậy nhưng rất mất vệ sinh, không đẹp mắt tý nào cả.

Trại giam này, tôi Phó Tế Nguyễn Mạnh San đảm trách nhiêm vụ Tuyên Úy Công Giáo nên may mắn được biết rõ ràng.

 

Trại giam có 13 từng lầu, mỗi từng chứa 170 người tù, mỗi xà lim nhốt 2 người và đôi khi có tới 3 người, mỗi xà lim đều có 1 cầu tiêu và 1 bồn rửa mặt. Nếu người bị nhốt ở xà lim lầu trên muốn nói chuyện với người ở xà lim lầu dưới, họ chỉ cần múc hết nước trong bồn cầu tiêu ra đem đổ vào bồn rửa mặt, rồi họ chồng tay xuống sàn nhà, chúi đầu thật sâu vào bồn cầu tiêu đã cạn hết nước, chổng đôi mông lên trời, rồi bắt đầu nói chuyện huyên thuyên đủ thứ. Họ đều nghe rất rõ, từng lời nói, từng hơi thở của nhau, y chang như đang dùng điện thoại bên ngoài. Chỉ có một điều bất tiện là trong lúc 2 người đang nói chuyện lỡ có người nào ở xà lim thuộc các tầng lầu bên trên cần giật nước đi cầu… thì câu chuyện bị gián đoạn tùy thuộc người bên trên sử dụng cầu tiêu lâu hay mau. Sau đó họ lại phải múc hết nước như đã làm ban đầu thì cuộc nói chuyện của 2 người lại được tiếp tục. Chính vì trở ngại này, họ thường thức khuya để trò chuyện, khoảng 2-3 giờ sáng mọi người đã ngủ hết, tránh khỏi bị gián đoạn. Hoạt cảnh chúi đầu vào cầu tiêu, chổng mông lên trời trông thật ngộ nghĩnh hiếm thấy trên đời, muốn biết có thật hay không, xin thử làm tù nhân nằm xà lim là sẽ biết ngay mà!

Liên tục phục vụ trên 7 năm tại trại giam này, tôi được thấy tận mắt hệ thống phát minh độc đáo «Toilet phone» đã tạo ra nhiều mối tình thật lãng mạn thơ mộng trong cuộc sống «nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại» này!.. Xin kể hầu các vị câu chuyện «Mùa Thu Lá Bay» lâm ly bi đát của 2 tù nhân nam, nữ: Chàng Rick và nàng Stacy. Thơ mộng lúc ban đầu và khổ sầu khi kết thúc.  TÌNH ĐẦU và cũng là TÌNH CUỐI

(Rick and Stacy, chứ không phải là Romeo and Juiliet)

Nàng Stacy là một góa phụ đã ngoài 38 tuổi đời, có 3 con, người con lớn nhất mới 12 tuổi, đứa nhỏ nhất 7 tuổi. Chị sinh ra trong một gia đình rất nghèo ở tỉnh nhỏ. Nhà có 8 anh chị em, chị là người lớn nhất, mới học tới lớp 10 thì cha mẹ gả chị cho người đàn ông đứng tuổi, khá giầu có ở tỉnh lân cận. Lấy chồng khi chị mới 16 tuổi, người chồng 40 tuổi. Họ không hề quen biết nhau trước đó. Chồng chị ham mê cờ bạc và rượu chè. Mỗi khi chồng chị đánh bài thua về nhà là ông rượu say bí tỷ, thường hay chửi mắng đánh đập chị thậm tệ cho nên ngay từ lúc đầu mới lấy nhau, chị chưa bao giờ cảm thấy thương yêu chồng. Mặc dù cuộc sống như trong hỏa ngục nhưng chị vì nghĩ đến các con, nghĩ tới phép đạo Công Giáo và cha mẹ còn cần phải tiếp tục nhờ vả vào tiền bạc chồng chị cung cấp hàng tháng nên chị đành ngậm bồ hòn không dám nghĩ tới chuyện ly dị. Chịu đựng lâu ngày, tâm hồn chị trở thàng chai đá, luôn luôn sẵn sàng chấp nhận tất cả mọi nghịch cảnh do chồng gây ra.

Đúng vào ngày sinh nhật con gái út vừa tròn 2 tuổi, chồng chị uống rượu say khướt, một mình lái xe xẩy ra tai nạn, xe đâm xuyên qua thành cầu trên một con rạch và chồng chị bị chết ngay tại chỗ. Sau khi chồng chết chị ở vậy nuôi con với số tiền nhỏ còn lại của chồng. Ba năm sau tiền gần hết chị phải tìm cách kiếm tiền chi tiêu trong gia đình bằng nghề buôn bán cần sa. Nhờ dịch vụ buôn bán bất hợp pháp này, trong vòng gần 2 năm chị đã có 1 cuộc sống mới, vật chất đầy đủ, tiền bạc sung túc gấp mấy lần cuộc sống khi chồng còn sống, trông chị trẻ đẹp hẳn ra, cứ như thiếu nữ đang Xuân, chưa tới 30 tuổi, giọng nói trở nên thánh thót, truyền cảm, hồn nhiên như nữ tài tử Julie Andrews.

Đi đêm cho lắm có ngày gặp ma…! Đúng như vậy chị đã gặp ma. Một khách hàng của chị bị cảnh sát bắt trong lúc đang cất giữ một số cần sa khá nhiều, đương sự khai là đã mua của chị, liền sau đó vài giờ chị bị bắt giam chờ ngày ra tòa về tội buôn bán cần sa bất hợp pháp.

Chàng Rick sống độc thân, 28 tuổi bị bắt vì trong xe của anh ta cất giấu một số cần sa trị giá trên 500 ngàn Mỹ kim. Rich có giọng nói trầm ấm rất quyến rũ, đẹp trai, khi mới nhìn thoáng qua nhiều người cứ nhầm tưởng là tài tử James Dean. Rick hát rất hay, thường chơi piano, keyboard, cho một ban nhạc nơi anh ở. Anh là con trai duy nhất, cha mẹ anh đã ly dị nhau từ khi anh mới 2 tuổi, anh sống với Mẹ cho tới năm lên 6, mẹ anh tái giá với người đàn ông đứng tuổi, đã có nhiều lần ly dị. Vợ ông ta là bạn học cũ cùng trường với Mẹ anh khi hai người còn ở bậc trung học. Mẹ anh không có con với người chồng này.

Đến năm Rick 18 tuổi có dịp gặp lại người cha ruột, anh về ở chung với Cha được 6 tháng thì Cha anh bị bắt về tội quá ghen giết vợ, chủ mưu trong việc thuê mướn người tình cũ của vợ để giết vợ mình. Tội trạng xét xử kéo dài gần 2 năm sau cha anh bị Tòa Thượng thẩm tuyên án tử hình. Cha anh xin kháng cáo, luật sư của cha anh đệ nạp lên Tòa án Tối cao Pháp viện của Tiểu Bang xin đổi bản án tử hình thành bản án chung thân khổ sai, nhưng chưa có kết quả. Ngày anh bị bắt giam, cha anh đã ở trong tù gần 10 năm.

Hầu hết những người đã từng nằm ấp tại trại giam (Jail), nơi tôi đang phục vụ trong nhiệm vụ Tuyên Úy Công Giáo tại đây, họ đều biết rõ do tù nhân chuyền cho nhau cách sử dụng hệ thống nói chuyện qua ống thoát nước cầu tiêu ở trong các xà lim (Cells) như đang nói chuyện điện thoại miễn phí, do chính những tù nhân bị nhốt lâu ngày khám phá ra. Tuy mất vệ sinh nhưng lại hữu dụng thích ứng cho những tù nhân bị nhốt lâu ngày một mình trong xà lim, không có thân nhân thăm viếng, giúp họ vơi đi phần nào tủi phận cô đơn, khi họ được mở bầu tâm sự với tù nhân khác qua loại điện thoại đặc biệt này.

Chị Stacy, anh Rick đều bị nhốt riêng biệt mỗi người một xà lim, không ai được phép trò chuyện hoặc thăm viếng ngoại trừ vị Luật Sư của họ nếu có và các vị Tuyên Úy đang phục vụ tại đây vì 2 người bị tình nghi là nhân vật quan trọng nằm trong tổ chức buôn bán cần sa, ma túy thuộc đường giây liên bang, chính quyền cần điều tra theo dõi, triệt để khai thác mọi tin tức qua lời khai của mọi người.

Chị Stacy bị bắt giam vào đây được 1 tháng thì anh Rick bị bắt, hai người chưa hề quen biết nhau, nằm trong đường giây buôn bán cần sa khác nhau. Chị Stacy được nhốt trong xà lim thuộc tầng lầu 4 (dành cho phái Nữ), anh Rick bị nhốt xà lim tầng lầu 5. Cả hai người đều là tín đồ Thiên Chúa Giáo. Ngày đầu bị giam họ đều nạp giấy yêu cầu (Request Slip) xin được gặp Tuyên Úy Công Giáo (Catholic Chaplain) do đó tôi đã vào thăm họ ngay khi nhận được giấy yêu cầu này, và cứ cách độ 2 tuần lại vào thăm tiếp tục rao giảng Tin mừng (Preaching Gospel) cho họ nghe, và sau đó cho họ rước Mình Thánh Chúa (Giving Holy Communion), an ủi tinh thần cho họ (Spiritual counselings).

Có lẽ ý Chúa muốn ban phúc cho hai kẻ cô đơn đang bị giam cầm này. Được quen nhau qua tiếng nói của nhau, nhưng sẽ không bao giờ được thấy mặt nhau, nên xà lim của anh Rick nằm dọc thẳng đứng ngay trên đầu xà lim của chị Stacy. Vì chỉ có những xà lim nằm dọc theo hàng thẳng đứng trên đầu nhau từ lầu trên xuống tầng lầu dưới mới có thể nói chuyện được với nhau qua hệ thống thoát nước cầu tiêu. Còn những xà lim nằm theo hàng ngang cùng từng lầu hay khác từng lầu thì không có cách nào để nói chuyện với nhau được.

Một hôm chị Stacy được phép ra khỏi xà lim để xem TV chung với chị em tù ở những xà lim khác tại khu vực giải trí nằm trong từng lầu 4 (mỗi từng lầu đều có 1 khu giải trí chung), tình cờ chị được một tù nhân ở xà lim kế cận, kể lại cho chị nghe cách thức tìm bạn trai qua hệ thống thoát nước cầu tiêu, đồng thời ngày hôm đó tại lầu 5, anh Rick cũng được thả ra coi TV và cũng được một tù nhân cùng tầng lầu kể lại cho anh nghe cách thức tìm bạn gái ở lầu 4 qua hệ thống thoát nước cầu tiêu. Thế là ngày hôm ấy, hai người chưa hề biết mặt nhau, không cả hẹn hò, họ linh cảm thử thời vận thức khuya chờ tới 2 giờ sáng múc hết nước trong cầu tiêu để tìm bạn tâm sự cho bớt nỗi cô đơn mà từ 2 tháng nay bị biệt giam trong xà lim 24/24 giờ, ngoài 4 lần được nói chuyện với tôi là Tuyên úy trại tù, không còn được phép gặp ai cả để hàn huyên tâm sự.

Gần 2 giờ sáng, tự nhiên anh Rick ở từng trên bắt đầu múc nước cầu tiêu đổ vào bồn rửa mặt thì ở tầng dưới chị Stacy cũng đang làm như vậy. Độ 2-3 phút sau bồn cầu tiêu khô cạn hết nước, họ bắt đầu chúi đầu chổng mông hỏi chuyện nhau. Tôi chợt nghĩ, đây là ý Chúa muốn cho họ tâm sự riêng tư đỡ khổ. Trong lúc này xà lim ở lầu dưới của chị Stacy (tầng 3), cũng như xà lim nằm bên trên của anh Rick (tầng 6) không có người múc nước ra khỏi bồn cầu tiêu để nói chuyện. Nếu hai bồn cầu tiêu này cũng có người múc cạn nước, chắc chắn câu chuyện tâm sự của Rick – Stacy sẽ là 4 người nói chuyện với nhau…chứ không còn là hai người nữa. Cứ như thế liên tục hằng đêm, Rick – Stacy say sưa nói chuyện tâm tình, yêu đương trao cho nhau những lời nồng thắm nhất từ trong tim của họ thốt ra nóng hổi suốt 4 tiếng đồng hồ không biết mệt, họ quên hết cảnh bị giam cầm, cô đơn, mặc dù 2 người phải ở trong tư thế 2 tay chống sàn nhà, đầu chui sâu vào bồn cầu tiêu để nói cho bên kia nghe rõ, chổng mông lên trời, ngửi mùi đặc sản nhà tù hiếm có này. Tình yêu số một của 2 người trao cho nhau bằng những lời ngọt ngào chân thành từ khuya cho tới sáng tinh sương, mới tạm ngừng đi ngủ.

Mỗi lần tôi vào thăm, họ đều nhờ tôi đem «nụ hôn nóng bỏng» (burning kiss) của chị Stacy và «nụ hôn bất diệt» (eternal-loving kiss) của anh Rick, gửi cho nhau. Có lần tôi đến thăm chị Stacy, chị hỏi tôi: Xin thầy Sáu (Deacon) cho con biết anh Rick trông như thế nào? (how does he look like?) Như Thầy đã biết kể từ ngày chúng con biết cách nói chuyện kiểu «Toilet phone», chúng con đã yêu nhau bằng cả tâm hồn lẫn con tim nhưng chúng con chưa bao giờ được phép thấy mặt nhau. Con tò mò muốn xin Thầy cho biết, xem anh ấy trông như thế nào? Tôi hiểu ý chị, liền trả lời vắn tắt cho chị hay, anh ta trông giống tài tử James Dean.

Vừa nghe xong, chị liền qùy gối chắp tay cúi đầu thưa: «Lạy Chúa, con xin hết lòng cảm tạ ơn Chúa đã ban cho con một người yêu lý tưởng mà con hằng mơ ước từ thuở con mới biết yêu». Rồi cách đó không lâu, khi tôi đến thăm anh Rick, anh cũng hỏi tôi về chị Stacy: Xin thầy Sáu cho con biết về nàng Stacy, người con yêu có đẹp không? (My darling Stacy, is she beautiful?) Tôi cho anh biết nàng giống tài tử Julie Andrews có giọng hát thánh thót như thiên thần, (bốc thơm giả tạo giúp người thỏa mãn đỡ khổ, tuy mang tội lừa dối, nhưng xin Chúa tha tội). Nghe tôi nói xong, anh Rick liền qùy gối, chắp tay cúi đầu thưa: «Lạy Chúa, con tạ ơn Ngài đã cho con một món quà vô giá, đó là nàng tiên Stacy trên trần gian, người mà con thề hứa yêu nàng suốt đời».

Cuộc tình toilet phone «RICK and STACY» nghe lời mà không thấy mặt vẫn êm đềm trôi theo thời gian được gần 4 tháng, tôi nhận được giấy yêu cầu của hai người xin gặp tôi gấp. Tôi liền vào gặp chị Stacy, chị ngỏ ý yêu cầu tôi làm phép cưới cho chị và anh Rick ngay trong trại giam này càng sớm càng tốt. Tôi nhận lời và giải thích cho chị biết là vấn đề làm phép cưới cho tù nhân ở trong tù, về phần đời không có gì khó khăn cả, tôi có thể xin phép vị Quản Đốc trại tù cho phép tôi làm, còn về phần đạo, chị không vướng mắc điều gì vì chồng chị đã qua đời, phần anh Rick từ trước tới nay vẫn sống độc thân.

Tuy nhiên hoàn cảnh anh chị yêu nhau nằm trong một trường hợp ngoại lệ vì hai người chưa hề thấy mặt nhau, còn một điều quan trọng nữa là ngay sau khi hai người đón nhận nghi thức hôn phối xong, anh chị phải xa cách nhau ngay, mỗi người mỗi ngả, cho tới ngày mãn hạn tù, hai ngươi mới có quyền chung sống với nhau, mà ngày mãn hạn tù có thể là 10, 20, hay 30 năm sau. Vì thế trước khi cử hành nghi thức hôn phối, tôi cần phải tham khảo với một vị Linh mục chuyên về Giáo luật hôn nhân, sau đó tôi còn phải tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu thêm để soạn thảo chương trình đặc biệt giảng dậy, hướng dẫn anh chị trong cuộc sống hôn nhân ngoại lệ và hy hữu như thế này. Sau đó tôi gặp anh Rick, cả hai người đều vui vẻ bằng lòng chờ đợi cho tới khi học xong chương trình dự bị hôn nhân do tôi hướng dẫn, lúc đó tôi sẽ làm phép hôn phối cho họ.

Bất ngờ nghe cô thư ký ở văn phòng Tuyên Úy trại giam báo cho tôi biết là đêm hôm qua anh Rick đã thắt cổ tự tử chết rồi, tôi choáng váng mặt mày, như bị sét đánh ngang đầu, rơm rớm nước mắt quanh tròng, buồn thương cho một kiếp người tội lỗi. Trước khi đi thăm xác anh Rick, tôi liền vào trại gặp chị Stacy để báo tin buồn này, nhưng chị đã biết rồi, chắc suốt đêm qua chị đã khóc rất nhiều, hai mắt xưng húp. Khi gặp tôi chị không còn nước mắt để khóc nữa. Chị tỏ ra rất bình tĩnh cầm chuỗi tràng hạt đặt cây Thánh giá trong lòng bàn tay, chị dâng cao, cúi đầu trướcThánh Giá và kính cẩn nói: «Trước tiên con xin cảm tạ đặc ân Chúa đã ban cho con một người yêu lý tưởng là anh RICK, Chúa đã cho con sống hạnh phúc với anh ấy liên tục nhiều đêm, con được nghe tiếng nói nồng ấm, tràn đầy tình yêu thương chân thành, nghe thấy từng hơi thở ấm áp, với giọng hát ngọt ngào cùng tiếng đập thổn thức từ trong tim của RICK đã dành cho con. Tất cả những điều trân qúy này, kể từ nay con không còn được hưởng thụ nữa, nhưng con thề nguyện luôn luôn ấp ủ trong tim của con, ghi nhớ mãi trong hồn con cho tới ngày con vĩnh biệt cõi đời này. Tới lúc đó xin Chúa thương xót cho phép con được gặp lại người con YÊU đã được Chúa thương gọi về với Chúa trước con.»

Chị Stacy lãnh án 15 năm tù ở, nếu chị không vi phạm kỷ luật suốt thời gian ở tù, thì sau 7 năm rưỡi chị sẽ được thả về sống tại ngoại hầu tra (Parolee on probation) cho đến khi hết án tù 15 năm. Ước vọng của chị là ngay sau khi được thả về nhà, chị đi tìm mộ chôn anh RICK để đặt một đóa hoa tươi mầu trắng, tượng trưng cho mối tình đâu trong trắng bị dang dở (tình chỉ đẹp khi còn dang dở) và chị đặt một nụ HÔN THỀ HỨA (Promissing kiss) của chị lên nấm mồ cô quạnh của anh RICK. Tôi hỏi chị tại sao chị gọi là NỤ HÔN THỀ HỨA? Chị trả lời rằng: «Chắc Thầy còn nhớ khi Rick còn sống, con vẫn nhờ Thầy gửi Nụ Hôn nồng cháy (burning kiss) của con đến anh ấy, nhưng giờ phút này anh đã không còn và chính con sẽ đích thân hôn lên mộ anh để thề hứa rằng con sẽ giữ lòng chung thủy với anh ấy suốt quãng đời còn lại của con. Tình của con vời anh Rick là: Mối TÌNH ĐẦU cũng là Mối TÌNH CUỐI…! Điều ước vọng sau chót của con là khi chết, thân xác con được chôn cạnh mộ của Rick (đồi thông hai mộ) lúc sống không được gần nhau, khi chết phải cầu sao cho được nằm cạnh nhau».

Trong cuộc sống, chúng ta nhận thấy qua câu chuyện tình «Toilet Phone» tình yêu chân thật không nhất thiết phải gặp mặt nhau, phải vai kề vai, tay trong tay dung dăng dung dẻ mới là hạnh phúc mà chỉ cần quen nhau qua tiếng nói tâm tình trong bồn cầu tiêu, dù không thấy mặt nhau như RICK – STACY, cũng đã thấy cả một bầu trời thơ mộng hạnh phúc lắm rồi. Tình yêu là tất cả, tình yêu chấp nhận đau khổ, tối tăm, mùi vị thơm hay không, hạnh phúc sẽ có trong muôn thuở…! Phải không quý bạn tâm tình?

Phó tế Nguyễn Mạnh San

Tuesday, December 9, 2025

Giữ lại phẩm giá cho người mà mình giúp đỡ

 Giữ lại phẩm giá
cho người mà mình giúp đỡ

Văn Chương

Tôi nói dối ông chủ tôi mỗi ngày.

Tôi năm nay 72 tuổi. Tôi là một chức sắc trong nhà thờ, đóng thuế đàng hoàng, chưa bao giờ bị phạt nguội lần nào. Nhưng suốt chín năm nay, tôi đang thực hiện một kiểu «lừa đảo» ngay dưới mũi của ban quản lý tiệm đồ cũ «Cơ Hội Thứ Hai» này.

Nếu họ biết được, họ sẽ đuổi việc tôi ngay lập tức, chẳng kịp cho tôi cởi cái tạp dề ra. Nhưng tôi kệ. Bởi vì trong một xã hội cứ thích tước đoạt đi lòng tự trọng của người khác, tôi đã tìm ra cách để trả lại nó cho họ.

Công việc của tôi đơn giản lắm: phân loại đồ quyên góp. Tôi dán nhãn giá cho quần jeans, mấy cái áo khoác mùa đông nặng trịch, mấy đôi giày bảo hộ còn dùng tốt. Hầu hết khách hàng chẳng thèm nhìn tôi. Đối với họ, tôi chỉ là một phần của cảnh vật: một ông già lụ khụ, mắt đeo kính, tay bị đau khớp, cứ cắm cúi định giá mấy món đồ có mùi băng phiến và mùi ký ức của người lạ.

Nhưng cái việc vô hình này lại có cái lợi của nó. Nó cho phép tôi nhìn thấy hết mọi thứ.

Tôi thấy mấy bà mẹ đơn thân cứ so đi so lại giá đôi giày đi học của con với tiền mua thức ăn. Tôi thấy mấy chú cựu chiến binh cứ nhìn chằm chằm vào bộ vest họ cần để đi phỏng vấn, nhìn vào cái ví tiền rồi lặng lẽ quay lưng đi.

Và tôi nhớ nhất là thằng bé đó.

Lúc đó là giữa tháng Mười Một, ở cái thị trấn rỉ sét, lạnh lẽo của chúng tôi. Gió lùa qua phố sắc như dao cắt. Thằng bé bước vào với cái áo nỉ mỏng dính, đến nỗi nhìn rõ cái áo thun bên trong. Nó chắc chưa tới mười bốn tuổi. Gầy gò, run cầm cập, với cái nhìn vô hồn mà những đứa trẻ hay mang khi chúng bị xã hội bỏ rơi quá nhiều lần.

Nó đi thẳng đến khu áo khoác. Nó tìm thấy một chiếc áo parka xanh hải quân, rất ấm, hàng hiệu, gần như mới. Giá là 25 đô la. Nghe thì bèo, nhưng đối với nó là cả một gia tài.

Tôi lén nhìn. Nó chạm vào ống tay áo, như muốn cảm nhận hơi ấm mà chiếc áo hứa hẹn. Nó nhìn cái nhãn giá. Vai nó xụ xuống khoảng chục phân. Nó không rên rỉ, không than thở. Nó chỉ cẩn thận treo chiếc áo lên lại và đi thẳng ra cửa.

Tim tôi đập thình thịch. Tôi không thể đơn giản là cho không nó. Tôi học được rằng, việc bố thí có thể mang lại vị đắng cho những người đang cố gắng sống sót. Nếu bạn đưa tiền bố thí, họ cảm thấy mình nhỏ bé. Họ cảm thấy mình như một trường hợp cần giúp đỡ xã hội.

Thế là tôi cầm chiếc áo, đi ra quầy tính tiền để chặn nó lại.

«Ê, nhóc,» tôi gọi.

Nó đứng khựng lại, sẵn sàng chạy trốn. «Con không có ăn cắp gì hết!»

«Tao biết,» tôi càu nhàu, đóng vai ông già khó tính. «Nhưng tao đang có rắc rối. Cái áo này hả? Nó bị lỗi. Cái khóa kéo dưới cùng nó bị kẹt. Mà theo quy định của cửa hàng, đồ bị lỗi thì không thể bán quá ba đô la. Mày có ba đô la không?»

Nó nhìn tôi, bối rối. «Nhãn ghi hai mươi lăm mà.»

«Nhãn ghi sai đấy,» tôi nói dối, giật phắt cái nhãn đi. «Tao là người quản lý kho. Tao nói nó ba đô la. Mày lấy không hay để tao quăng nó đi?»

Nó do dự, dò xét gương mặt tôi xem có bẫy gì không. Rồi nó lục túi, lôi ra ba tờ tiền nhăn nhúm.

«Dạ, có,» nó thì thầm. «Con lấy.»

Nó mặc chiếc áo vào ngay lập tức. Kéo khóa lên tận cổ, khóa vẫn hoạt động trơn tru, dĩ nhiên rồi, và nó thẳng lưng lên. Nó không còn trông như một thằng bé co ro vì lạnh nữa. Nó trông như một thanh niên vừa mới làm một phi vụ hời. Nó trông có vẻ được che chở.

«Cảm ơn ông,» nó nói.

«Quy định cửa hàng thôi,» tôi lầm bầm, quay lưng đi để nó không thấy mắt tôi hơi ướt.

Mọi chuyện bắt đầu từ đó.

Nhiều năm qua, cái «quy định cửa hàng» đó đã trở thành vũ khí bí mật của tôi.

Khi bà Miller, một góa phụ sống bằng đồng lương hưu ít ỏi, cần một cái máy nướng bánh mì mới nhưng chỉ có 5 đô la trong túi, thì cái máy 20 đô la bỗng nhiên bị dán nhãn là «dây điện bị hở».

Khi một ông bố trẻ cần đôi giày bảo hộ để bắt đầu công việc xây dựng đầu tiên, tôi tự động «giảm giá đặc biệt sáng thứ Ba».

Tôi tự nhớ trong đầu. Tôi tự bỏ tiền túi bù vào nếu tiền mặt bị hụt, hoặc tôi khai báo những món đồ đó là «không bán được/đã tiêu hủy» trong hệ thống. Tôi sợ bị bắt lắm chứ.

Thế rồi một buổi chiều, một người phụ nữ đeo khăn choàng cashmere đã bắt quả tang tôi. Cô ta thấy tôi bán một chiếc xe đẩy em bé gần như mới cho một cô gái trẻ đang sợ hãi với giá 10 đô la.

Khi cô gái đi khỏi, người phụ nữ đó bước đến. Tôi chuẩn bị tinh thần bị mắng té tát hoặc bị dọa gọi quản lý.

Thế nhưng, cô ta lại đặt một tờ 100 đô la gấp gọn lên quầy.

«Cho mấy cái... sai sót kiểm kê của ông,» cô ta nháy mắt.

Và chuyện này bắt đầu lan ra. Một cách kín đáo. Những khách quen bắt đầu hiểu. Họ không bao giờ nói một lời. Họ mua một món đồ lặt vặt giá 5 đô la, đưa tôi tờ hai mươi, rồi nói: «Giữ lại tiền thối cho lần sau... hệ thống gặp trục trặc nhé.»

Chúng tôi đã xây dựng nên một nền kinh tế bí mật chỉ dựa trên phẩm giá. Chúng tôi không bố thí; chúng tôi đang cân bằng lại cơ hội.

Thứ Ba tuần trước, tiếng chuông trên cửa kêu leng keng.

Một người đàn ông bước vào. Cao lớn, vai rộng, mặc bộ đồng phục nhân viên cấp cứu chỉnh tề. Anh ta đi đứng tự tin, nhưng không phải để mua sắm.

Anh đi thẳng đến quầy của tôi.

«Ông là Arthur,» anh ta khẳng định.

Tôi chỉnh lại kính. «Đúng là tôi.»

Anh ta cười, và đột nhiên, tôi thấy lại hình ảnh cậu bé mười bốn tuổi gầy gò trong chiếc áo nỉ xám mỏng manh ngày nào.

«Ông bán cho tôi cái áo parka xanh hải quân cách đây mười năm,» anh ta nói. «Ông bảo cái khóa kéo nó bị hỏng.»

Tôi cảm thấy má mình nóng ran. «Tôi xử lý nhiều áo khoác lắm, cậu bé.»

«Khóa kéo không hề hỏng đâu, Arthur.» Anh ta cúi xuống, giọng nghẹn lại vì xúc động. «Tôi biết ông nói dối. Ngay cả lúc đó tôi cũng biết. Nhưng ông đã không bắt tôi phải đi xin xỏ. Ông để tôi được mua nó. Ông để tôi là một khách hàng, chứ không phải một kẻ ăn xin. Tôi bước ra khỏi đây với cảm giác như một người đàn ông.»

Anh ta rút ra một phong bì từ túi áo.

«Giờ tôi là nhân viên cấp cứu. Tôi cứu người. Nhưng tôi không nghĩ tôi đã sống sót qua mùa đông năm đó nếu không có chiếc áo khoác đó. Hoặc nếu không biết rằng có người thực sự quan tâm đến mình.»

Anh ta đặt phong bì lên quầy.

«Trong đây có 500 đô la,» anh ta nói. «Ông dùng nó đi. Tôi biết cái 'quy định cửa hàng' của ông tốn kém lắm.»

Tôi run rẩy cố gắng trả lại. «Tôi không thể...»

«Cái này không phải cho ông,» anh ta nói dứt khoát. «Nó dành cho đứa trẻ run rẩy tiếp theo bước vào đây. Hãy đảm bảo rằng khóa kéo của nó cũng bị hỏng, nhé.»

Rồi anh ta quay lưng bước đi, đầu ngẩng cao, hòa vào ánh nắng mùa thu.

Tôi đã 72 tuổi. Lưng tôi đau, chân tôi sưng vù sau một ngày dài. Nhưng tôi có công việc tuyệt vời nhất trên đời.

Chúng ta đang sống trong một đất nước nói rằng giá trị của bạn phụ thuộc vào số tiền trong tài khoản. Người ta bảo nhau phải tự lực cánh sinh, ngay cả khi họ không có gì.

Nhưng tôi đã học được một điều trong cái cửa hàng bụi bặm cũ kỹ này: Phẩm giá quan trọng hơn việc bố thí.

Đôi khi, giúp đỡ một người không chỉ là cho họ thứ họ cần. Mà là cách bạn trao nó cho họ.

Nếu bạn có thể giúp đỡ ai đó mà vẫn giữ được lòng tự trọng của họ, nếu bạn có thể giúp họ mà không làm họ cảm thấy nhỏ bé, bạn không chỉ nuôi dưỡng thân thể họ, bạn còn đang cứu rỗi cả tâm hồn họ nữa.

Vì vậy, tôi sẽ tiếp tục nói dối. Tôi sẽ tiếp tục lách luật. Tôi sẽ tiếp tục bịa ra những quy định không hề tồn tại.

Bởi vì cái mác giá chẳng có ý nghĩa gì. Điều quan trọng là người mặc nó.

Văn Chương

Thursday, September 4, 2025

Sự tích lễ Vu Lan

 Sự tích rằm tháng bảy 
và xuất xứ của hai tiếng Vu Lan

AN CHI


Rằm tháng 7 Âm lịch hàng năm là ngày xá tội vong nhân, dân gian gọi một cách nôm na là ngày cúng cô hồn. Nhưng đây cũng còn là ngày báo hiếu mà giới tăng ni Phật tử gọi là ngày lễ Vu Lan. Vậy lễ này và lễ cúng cô hồn có phải là một hay không? Và đâu là xuất xứ của hai tiếng "Vu Lan"?


Lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo của Ông Ma Ha Một Ðặc Già La, thường gọi là Ðại Mục Kiền Liên, gọi tắt là Mục Liên. Vốn là một tu sĩ khác đạo, về sau Mục Liên đã quy y và trở thành một đệ tử lớn của Phật, đạt được sáu phép thần thông rồi được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật. Sau khi đã chứng quả A La Hán, Mục Liên ngậm ngùi nhớ đến mẫu thân, bèn dùng huệ nhãn nhìn xuống các cõi khổ mà tìm thì thấy mẹ đã đọa vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói) nơi địa ngục A Tì. Thân hình tiều tụy, da bọc xương, bụng ỏng đầu to, cổ như cọng cỏ. Mẹ Mục Liên đói không được ăn, khát không được uống. Quá thương cảm xót xa, Mục Liên vận dụng phép thần thông, tức tốc đến chỗ mẹ. Tay bưng bát cơm dâng mẹ mà nước mắt lưng tròng. Mẹ Mục Liên vì đói khát lâu ngày nên giật vội bát cơm mà ăn. Tay trái bưng bát, tay phải bốc cơm nhưng chưa vào đến miệng thì cơm đã hóa thành lửa. Mục Liên đau đớn vô cùng, khóc than thảm thiết rồi trở về bạch chuyện với Ðức Phật để xin được chỉ dạy cách cứu mẹ.


Phật cho Mục Liên biết vì nghiệp chướng của các kiếp trước mà mẹ ông mới phải sanh vào nơi ác đạo làm loài ngạ quỷ. Một mình Mục Liên thì vô phương cứu được mẹ dù ông có thần thông đến đâu và dù lòng hiếu thảo của ông có thấu đến đất trời, động đến thần thánh. Phải nhờ đến uy đức của chúng tăng khắp các nẻo đồng tâm hiệp ý cầu xin cứu rỗi cho mới được. Bởi vậy, Phật dạy Mục Liên phải thành kính đi rước chư tăng khắp mười phương về, đặc biệt là các vị đã chứng được bốn quả thánh hoặc đã đạt được sáu phép thần thông. Nhờ công đức cầu nguyện của các vị này, vong linh mẹ Mục Liên mới thoát khỏi khổ đạo. Phật lại dạy Mục Liên sắm đủ các món để dâng cúng các vị ấy, nào là thức thức thời trân, hương dâu đèn nến, giường chõng chiếu gối, chăn màn quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay cùng các món nhật dụng khác. Ðúng vào ngày rằm tháng 7 thì lập trai đàn để cầu nguyện, thiết trai diên để mời chư tăng thọ thực. Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Ðức Phật mà chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát. Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy. Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sanh về cảnh giới lành. Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng đó gọi là Vu Lan bồn hội, còn bộ kinh ghi chép sự tích trên đây thì gọi là Vu Lan bồn kinh.


Ngày rằm tháng 7 do đó được gọi là ngày lễ Vu Lan. Vậy lễ này có phải cũng là lễ cúng cô hồn hay không? Không! Ðây là hai lễ cúng khác nhau được cử hành trong cùng một ngày. Sự tích lễ cúng cô hồn đại khái như sau: Cứ theo «Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh» mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói: «Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên». A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi Là "Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni", đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này, cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu. Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn mà chúng tôi đã trình bày trên đây. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là «thả quỷ miệng lửa», về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành «tha tội cho tất cả những người chết». Vì vậy, ngày nay mới có câu «Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân».


Vậy lễ Vu Lan và lễ cúng cô hồn là hai lễ cúng khác nhau. Một đằng thì liên quan đến chuyện ông Mục Liên, một đằng lại liên quan đến chuyện ông A Nan. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ và ông bà bảy đời, một đằng là để bố thí cho những vong hồn không ai thờ cúng. Một đằng là báo hiếu, một đằng là làm phước. Sự khác nhau giữa hai bên là hiển nhiên, nhưng nhiều người vẫn cứ lẫn lộn. Chẳng hạn trước đây, ông Thái văn Kiểm cho rằng lễ Vu Lan và lễ (xá tội) vong nhân (fête des Trépassés) là một. Còn lễ cúng cô hồn (fête des âmes errantes) và lễ xá tội vong nhân (Pardon des Trépassés) chính là một thì ông lại xem là hai (X. Les fêtes traditionnelles Vietnamiennes, B.S.E.I., t. XXXVI, no1, 1961, pp. 64-65). Mới đây, hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi cho rằng lễ Vu Lan là để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết (Chúng tôi nhấn mạnh – HT) không còn phải đọa cảnh khổ nữa (Từ điển Phật học Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr. 795, mục Vu Lan bồn). Nhưng đây không phải là «những người đã chết» nói chung vì như đã biết, đó chỉ là cha mẹ cùng với ông bà bảy đời mà thôi.


Trở lên là nói về sự khác nhau giữa lễ cúng cô hồn với lễ báo hiếu, thường gọi là lễ Vu Lan. Vu Lan là dạng tắt của Vu Lan bồn. Nhưng Vu Lan bồn là gì ? Sau đây là lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi : «Bồn là cái chậu đựng thức ăn. Cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7 để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết không còn phải đọa cảnh khổ nữa. Vu Lan dịch âm từ chữ Sanscrit Ullabana, là cứu nạn treo ngược. Những người làm nhiều điều ác đức, sau khi chết, phải thác sinh xuống những cõi sống rất khổ gọi là địa ngục. Ở đây có một khổ hình là bị treo ngược» (Sđd, tr. 795). Chúng tôi sẽ dựa vào lời giảng này mà tìm hiểu về xuất xứ của mấy tiếng «Vu Lan» và «Vu Lan bồn». Lời giảng này có bốn điểm sai mà điểm sai thứ nhất thì chúng tôi vừa mới chỉ ra ở những dòng cuối của đoạn trên.


Sau đây là điểm sai thứ hai : Nói bồn là cái chậu đựng thức ăn thì không đúng vì bồn chỉ là một yếu tố phiên âm (sẽ phân tích rõ ở phần sau) mà thôi. Nói rằng đó là «cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7» thì lại sai theo một kiểu khác nữa. Chậu là «đồ dùng thường làm bằng sành sứ hoặc kim loại, miệng rộng, lòng nông, dùng để đựng nước rửa ráy, tắm giặt hoặc để trồng cây v.v…» (Từ điển tiếng Việt 1992). Vậy đựng thức ăn trong loại đồ dùng đó mà dâng lên cho chư tăng thọ thực là một hành động hoàn toàn thất nghi và thất lễ. Thật ra, Phật đã dạy Mục Liên như sau:


«Phải toan sắm sửa chớ chầy
Ðồ ăn trăm món trái cây năm màu
Lại phải sắm giường nằm nệm lót
Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang dầu
Món ăn tinh sạch báu mầu
Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng» 

(Diễn ca kinh Vu Lan bồn)


Thau, bồn (chậu) chỉ là những thứ phải dâng cho chư tăng trong dịp Vu Lan để dùng trong việc rửa ráy, tắm giặt… mà thôi. Còn thức ăn thì phải «tinh sạch báu mầu, đựng trong bình bát» đàng hoàng lịch sự, chứ có đâu lại đựng trong chậu.


Thật ra, trước Thích Minh Châu và Minh Chi, cũng có những học giả đã giảng như trên, chẳng hạn Ðoàn Trung Còn trong bộ từ điển lớn về Phật học hoặc Toan Ánh trong bộ sách dày về nếp cũ. Ðây là một cách giảng lệ thuộc vào cái sai của sách vở Trung Hoa. Từ Nguyên chẳng hạn, đã giảng về mấy tiếng Vu Lan bồn như sau : «Nói lấy chậu đựng trăm thức để cúng dường chư Phật» (Vị dĩ bồn trữ bách vị cung dưỡng chư Phật).


Ðiểm sai thứ ba là đã theo cái sai của những người đi trước mà giảng Vu Lan thành «cứu nạn treo ngược», vì thấy từ điển Trung Hoa giảng Vu Lan bồn là «cứu đảo huyền». Thật ra, khi Từ Nguyên chẳng hạn, giảng Vu Lan bồn thành «cứu đảo huyền» là đã mượn hai tiếng «đảo huyền» trong sách Mạnh Tử. Trong sách này, có cú đoạn "Dân chi duyệt chi do Giải đảo huyền dã" nghĩa là «như giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng vậy». Chính Từ Nguyên cũng đã giảng «đảo huyền» là sự khốn khổ tột cùng (khốn khổ chi thậm). Vậy «cứu đảo huyền» không phải là «cứu nạn treo ngược» mà lại là " giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng ". Hai tiếng " đảo huyền " ở đây không còn được hiểu theo nghĩa đen nữa. Nghĩa của chúng ở đây cũng giống như nghĩa của chúng trong thành ngữ " đảo huyền chi tế " là tình cảnh khốn khó, chứ không phải là " cảnh bị treo ngược ".


Ðiểm sai thứ tư là ở chỗ nói rằng danh từ Sanscrit "Ullabana" có nghĩa là "cứu nạn treo ngược". Trước nhất, cần nói rằng từ Sanscrit này đã bị viết sai. Vậy không biết ở đây hai tác giả muốn nói đến danh từ Sanscrit nào, nhưng cứ theo dạng sai chính tả đã thấy thì có thể luận ra rằng đó là một trong hai từ sau đây : Ullambana hoặc Ullambhana. Ở đây, xin phân tích từ thứ nhất: Ullambana gồm có ba hình vị : ud (trở thành ul do quy tắc biến âm samdhi khi d đứng trước l) là một tiền tố, thường gọi là tiền động từ (préverbe) chỉ sự vận động từ dưới lên, lamb là căn tố động từ có nghĩa là treo và ana là hậu tố chỉ hành động. Vậy Ullambana có nghĩa là sự treo lên. Nhưng tất cả chỉ có như thế mà thôi ! Từ Sanscrit này không hề diễn đạt cái ý treo ngược hoặc treo xuôi gì cả. Nó lại càng không thể có nghĩa là "cứu nạn treo ngược " được.


Trở lên, chúng tôi đã nêu ra những điểm sai trong lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi về hai tiếng "Vu Lan ". Vậy đâu là xuất xứ và ý nghĩa đích thực của hai tiếng này ? Trước nhất, Vu Lan là dạng nói tắt của " Vu Lan bồn ". Ðây là ba tiếng đã được dùng để phiên âm danh từ Sanscrit Ullambhana. Từ này thoạt đầu đã được phiên âm bằng bốn tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt là Ôlambàna. Dạng phiên âm cổ xưa này đã được Từ Hải khẳng định. Về sau, Ôlambàna được thay thế bằng dạng phiên âm mới là " Vu Lan bồn", trong đó Vu thay thế cho Ô, lan cho lam và bồn cho bà + n (a). Vì " Vu Lan bồn " chỉ là ba tiếng dùng để phiên âm, cho nên từng tiếng một (Vu, Lan, bồn) hoàn toàn không có nghĩa gì trong Hán ngữ cả. Do đó, tách bồn ra mà giảng thành " cái chậu đựng thức ăn " như hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi đã làm là hoàn toàn không đúng.


Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Danh từ Sanscrit này có ba hình vị: Tiền tố ud (trở thành ul vì lý do đã nói), căn tố động từ lambh và hậu tố ana. Xin nói rõ về từng hình vị: Không giống như trong Ullambana, ở đó nó chỉ sự vận động từ dưới lên. Trong Ullambhana, tiền tố ud chỉ ý phủ định hoặc đối lập, thí dụ : chad (che, bọc, phủ), dv (đối với), uc-chad (cởi quần áo), khan (chôn), đv ut-khan (moi lên), gam (đi), đv ud-gam (đi ra), nah (trói, buộc), đv un-nah (cởi trói) v.v… Trong những thí dụ trên, ud trở thành uc, ut, un do quy tắc biến âm samdhi. Còn các căn tố động từ thì được ghi bằng chữ in hoa theo truyền thống khi chúng được tách riêng. Căn tố động từ lambh là hình thái luân phiên với labh, có nghĩa là lấy, chiếm lấy, nắm bắt … Vậy Ul-lambh có nghĩa là giải thoát. Hậu tố ana chỉ hành động có liên quan đến ý nghĩa mà tiền tố và căn tố động từ diễn đạt. Vậy Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Ullambhana được phiên âm sang Hán ngữ bằng ba tiếng dọc theo âm Hán Việt là "Vu Lan bồn". Vu Lan bồn được nói tắt thành Vu Lan. Vậy Vu Lan là sự giải thoát. Xuất xứ của nó là danh từ Sanscrit Ullambhana. Ðây là từ thứ hai trong hai từ mà chúng tôi đã suy đoán ở trên. Trong cấu tạo của từ này, tuyệt nhiên cũng không có một thành tố nào mà về ngữ nghĩa lại có liên quan đến hiện tượng " treo ngược " cả.


Trở lên, dù sao cũng chỉ là ý kiến thô thiển của một cá nhân. Ðúng hay sai, xin được sự thẩm xét của các nhà chuyên môn, trước nhất là các nhà Phật học và các nhà Phạn học.


Gò Công ngày 22-08-2018

Saturday, July 5, 2025

Siêu nghiệm là gì?

Siêu nghiệm là gì?

Để hiểu siêu nghiệm là gì, mời Quí Vị đọc câu chuyện ngụ ngôn sau đây mà tôi đọc được ở đâu đó:

● Có một con cá được người ta nuôi trong một cái hồ thủy tinh từ hồi sinh ra. Cá chỉ sống trong nước, không biết gì ngoài nước và những gì nó thấy trong nước. Một hôm, người ta bắt được một con rùa ở bờ sông và đem về nuôi chung trong cái hồ thủy tinh ấy. Hai con vật lâu ngày quen nhau, và con rùa kể cho cá nghe những gì mình đã thấy, đã gặp trên đất liền. Nói tới bất cứ cái gì thì cá cũng ngạc nhiên, không hiểu được điều rùa mô tả là cái gì. Chẳng hạn, rùa mô tả về đất. Cá hỏi:  
 + Đất là gì? 
 − Là cái mà người ta đi lên, dẵm chân lên. 
 + Vậy nó là cái đáy hồ mà anh đang đi, đang dẵm chân lên, phải không? 
 − Đúng rồi, nhưng không phải là như vậy.  
 + Tại sao đúng rồi mà không phải là như vậy? 
 − Đúng ở chỗ nó là cái người ta đi lên, dẵm lên, nhưng không đúng ở chỗ nó không phẳng phiu và trơn láng như đáy hồ này.  
 + Vậy là nó giống như cái lưng của anh phải không? 
 − Đúng rồi nhưng không phải là như vậy.  
 + Tại sao đúng rồi mà không phải là như vậy? 
 − Đúng ở chỗ nó không phẳng phiu và trơn láng, nhưng không đúng ở chỗ nó không đồng chất với đáy hồ.  
 + Cái lưng của anh cũng đâu có đồng chất với đáy hồ, tại sao nó không giống như cái lưng của anh? 
 − Nó không đồng chất với đáy hồ, mà cũng không đồng chất với lưng của tôi, cũng không đồng chất với da thịt chị, với đồ ăn của chúng ta.  
 + Vậy thì nó là cái gì? 
 − Cái chất đó không giống như bất cứ chất gì trong cái hồ này, nên tôi không thể diễn tả được. Nhưng nó khô chứ không ướt át như mọi thứ trong hồ này.  
 + Thế nào là khô và thế nào là ướt nhỉ? 
 − Khô là không có nước, còn ướt là có nước.  
 + Nước là gì? 
 − Nước là cái đang bao bọc chung quanh chúng ta. Chúng ta đang bơi lội trong nước.  
 + Vậy nước cũng là cái khoảng không giữa anh và tôi phải không? 
 − Phải.  
 + Vậy thì không có nước, tức là không có cái khoảng không này à? 
 − Ồ, giữa chị và tôi không phải là khoảng không trống rỗng, mà là nước.  
 + Vậy thì không có nước, hay khô là gì? Tôi hoàn toàn chưa thể quan niệm được. 
 − Tôi không biết phải nói làm sao. Nhưng khô thì không trơn, không mát mẻ, không êm dịu…  
 + Vậy là tôi chẳng hiểu gì cả, chẳng hiểu đất là gì mà cũng chẳng hiểu khô là gì. 
 − Tôi nói rõ ràng và chân thật như thế mà chị không hiểu sao?  
+ … . ?! ?!   

 Siêu nghiệm không hẳn phải là một cái gì cao vời, siêu việt, nó chỉ là tình trạng hoàn toàn vượt ra ngoài tất cả những gì mà một chủ thể ý thức chưa hề kinh nghiệm một chút nào.

Đối với con rùa đã từng sống trên mặt đất, nên nó đã biết đất như thế nào. Nó đã từng kinh nghiệm về khô và ướt khác nhau thế nào. Nhưng một con cá sinh ra ở trong nước, lớn lên ở trong nước, cả cuộc đời nó không bao giờ ra khỏi nước. Do đó, nó không hề có một ý niệm nào về «khô» cả. Và vì không có ý niệm «khô», nên nó cũng chẳng có ý niệm nào là «ướt» cả, mặc dù nó luôn luôn sống trong môi trường «ướt», vì muốn có ý niệm «ướt» thì phải có ý niệm «khô» để mà so sánh, đối chiếu.
Một minh họa khác về siêu nghiệm:
Trong thung lũng nọ, có một làng mà mọi người trong làng đều mù từ khi sinh ra. Họ hoàn toàn chỉ sống với 4 giác quan: thính giác (tai để nghe), khứu giác (mũi để ngửi), vị giác (lưỡi để nếm), xúc giác (da để cảm nghiệm nóng lạnh, phẳng hay gồ ghề, v.v...). Không ái có thị giác (mắt để nhìn, để thấy)
Một hôm, có một chàng thanh niên ở một làng cách đó khá xa đi thám hiểm và lạc vào làng toàn người mù bẩm sinh ấy. Khi thấy cảnh trí ở làng ấy quá đẹp, anh nói với dân làng ấy, 
− Cảnh ở đây đẹp quá, cây cối xanh tốt quá, hoa đủ màu đủ sắc: đỏ, hồng, tím, trắng...
Dân làng ngơ ngác không hiểu anh nói gì. Họ hỏi:
 + Anh nói hoa ở đây màu đò, hồng, tím, trắng… nghĩa là gì? nó cứng hay nó mềm? nó khô hay nó ướt? nó mịn hay nó nhám? (họ hỏi đủ kiểu liên quan đến 4 giác quan mà họ có được)
Tất cả mọi câu hỏi liên quan đến những giác quan mà họ có, anh đều trả lời không phải. Họ bèn hỏi: 
 + Vậy Anh hay cố diễn tả cho chúng tôi biết mấy cái mầu sắc đỏ, xanh, tìm… ấy là gì để chúng tôi hiểu.
Chàng thanh niên không biết phải dùng từ ngữ nào để nói cho những người mù bẩm sinh màu xanh là gì, màu đỏ là gì... Mặc dù những màu sắc ấy hiển hiện ngay trước mắt anh rất cụ thể và rất rõ ràng. Anh hoàn toàn bất lực không sao giải thích cho họ được. 
….
Khi nghe ai nói màu xanh, màu đỏ hay bất cứ màu gì, người bình thường có đủ 5 giác quan đều cảm thấy rất dễ hiểu, Nhưng tại sao anh không sao giải thích được cho những người mù bẩm sinh kia hiểu và cảm nghiệm được những màu mà anh thấy một cách quá dễ dàng, nó chẳng có gì siêu việt đối với anh cả?
Tại sao? Tại vì màu sắc là một thực thể siêu nghiệm đối với những người mù bẩm sinh. Họ chỉ có thể hiểu được, cảm nghiệm được những màu sắc ấy khi có bác sĩ nào làm cho họ có mắt để thấy được mà thôi.
Cũng tương tự như vậy, một người đã từng ăn sầu riêng chẳng hạn, không thể nào mô tả cái vị ngọt của sầu riêng khác với vị ngọt của chuối, của cam, của xoài thế nào để người chưa bao giờ được ăn sầu riêng… Không có ngôn ngữ nào để có thể diễn tả cho người kia cảm nghiệm được như người đã từng ăn.
Nguyễn Chính Kết